>
4 người đang online
lượt truy cập

Cước phí hàng hải giảm, khoán thu tăng Nỗi lo của nhà quản lý

Mức thu các loại phí hàng hải thời gian gần đây đã giảm mạnh. Ước tính, so với thời điểm trước năm 2000, phí trọng tải đã giảm tới 50%, phí bảo đảm hàng hải giảm 40%.

Tuy nhiên, trong khi mức thu cước phí hàng hải giảm thì mức khoán thu của Bộ Tài chính đối với Cục Hàng hải Việt Nam vẫn không giảm. Điều này đã gây khó khăn không nhỏ cho các nhà quản lý


* Phí liên tục giảm trong 3 năm liền

Năm 2001, giảm 15% đơn giá thu phí trọng tải và phí bảo đảm hàng hải, năm 2002, giảm tiếp 15% đơn giá của 2 loại phí trên. Năm 2003, phí trọng tải tiếp tục giảm 20%, phí bảo đảm hàng hải giảm 10%, phí hoa tiêu giảm từ 10 đến 20% (tùy theo khoản cách), miễn phí neo đậu đối với hàng hóa bốc, dỡ tại vũng, vịnh, giảm 33% phí neo đậu đối với hàng hóa bốc dỡ tại cầu cảng, phao. Riêng giá dịch vụ Đại lý và giá các dịch vụ tại các cảng biển chuyên dung phục vụ dầu khí, phí cầu bến đối với phương tiện chưa được điều chỉnh. Ngoài việc giảm đơn giá như trên, trường hợp tầu thủy có khối lượng bốc dỡ hàng hóa nhỏ hơn 50% tổng trọng tảI tầu được giảm thêm 30% đơn giá phí trọng tải, bảo đảm hàng hải. Các trường hợp này hiện chiếm khoảng 80 - 90% số lượt tầu vào cảng biển. Mặc dù đã liên tục giảm trong 3 năm liền, song không thể phủ nhận rằng so với mặt bằng chung của thế giới, cước phí cảng biển của nước ta vẫn còn ở mức cao. Cùng nằm sâu trong đất liền (khoảng cách 40 hải lý) song mức thu phí tại cảng Hải Phòng cao hơn so với mức bình quân của Thái Lan, Trung Quốc khoảng 21%. Đối với các cảng ở gần bờ biển, thì cảng Đà Nẵng của Việt Nam có mức thu cao hơn những 54% so với mức bình quân của 4 nước lân cận là Thái Lan, Philippin, Indonexia và Korea. Do vậy, việc xây dựng lộ trình điều chỉnh giảm mức thu phí trọng tải, phí hoa tiêu, phí cầu bến tương đương mức thu bình quân của các nước trong khu vực có điều kiện thương mại tương tự là điều tất yếu trong quá trình hội nhập.

* Phí đã giảm, mức khoán thu vẫn cao

Xác định việc giảm mức thu cước hàng hài là một hướng đi tất yếu, ngày 25/4/2003, Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 61/2003/QĐ-BTC ban hành biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải và giá dịch vụ cảng biển, theo đó, mức thu phí cảng vụ giảm 20% và phí bảo đảm hàng hải giảm 20%kể từ ngày 1/5/2003. Song đến ngày 17/11/2003, Bộ Tài chính ra Quyết định số 190/2003/QĐ-BTC duyệt dự toán thu chi ngân sách Nhà nước năm 2004 cho Bộ GTVT trong đó giao kế hoạch thu phí cảng vụ của Cục Hàng hải Việt Nam là 200 tỷ đồng và phí bảo đảm hàng hải là 299 tỷ đồng. Số thu này được tính toán trên cơ sở kế hoạch thu năm 2003 cộng thêm tỷ lệ tăng trưởng 10% mà chưa tính toán đến ảnh hưởng của việc giảm mức thu phí hàng hải tại Quyết định số 61/2003/QĐ-BTC. Điều này đã gây khó khăn không nhỏ cho cơ quan QLNN mà cụ thể là Cục Hàng hải Việt Nam. Căn cứ tình hình thực tế số thu 6 tháng thì năm 2004 Cục Hàng hải Việt Nam chỉ có thể đạt số thu phí cảng vụ là 180/200 tỷ và phí bảo đảm hàng hải là 285/299 tỷ kế hoạch giao.

Ngày 28/4/2004 vừa qua, Bộ Tài chính lại tiếp tục có công văn 4515 TC/TCND yêu cầu từ 1/1/2005 tiếp tục giảm mức thu phí cảng vụ và phí bảo đảm hàng hải mức giảm dự kiến khoảng từ 15 đến 20% đồng thời, trong thông báo của Bộ Tài chính về số dự kiến giao thu, chi ngân sách nhà nước năm 2005, Cục Hàng hải lại "bị" giao mức thu 220 tỷ phí cảng vụ và 328 tỷ phí bảo đảm an toàn hàng hải. Trong khi đó, tính toán thực tế trên cơ sở số thu năm 2004, dự kiến tỷ lệ giảm phí là 20% và tăng trưởng 10%, thì mức thu năm của Cục Hàng hải Việt Nam chỉ có thể đạt 158 tỷ phí cảng vụ và 250 tỷ phí bảo đảm hang hải.

Có thể thấy sự bất hợp lý, có phần áp đặt, thiếu thực tế của mức giao khoán thu này. Nó phần nào làm nặng thêm nỗi lo cho các nhà quản lý chuyên ngành hàng hải - một ngành kinh tế đang đứng trước những đòi hỏi gắt gao của hội nhập.